Bệnh nhân

Câu chuyện về robot Renaissance

Renaissance có nghĩa là “phục hưng” (tiếng Ý: Rinascimento, từ ri- “lần nữa” và nascere “được sinh ra”) là một phong trào văn hóa trải dài thế kỷ 14 đến thế kỷ 17, khởi đầu tại Florence (Ý) vào hậu kỳ Trung Cổ và sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu. Thuật ngữ này cũng được dùng một cách không rõ ràng để chỉ thời kỳ lịch sử, mặc dù những thay đổi của Phục Hưng không đồng đều ở khắp châu Âu, đây là cách sử dụng thông dụng của thuật ngữ.

Thuật ngữ Rinascenza (tái sinh) được nhà sử học Giorgio Vasari dùng ban đầu vào năm 1550 để chỉ sự hồi sinh và phát triển rực rỡ các hoạt động nghệ thuật và khoa học bắt đầu tại Ý vào thế kỷ 13. Sau đó, thuật ngữ Renaissance được Jules Michelet dùng trong tiếng Pháp và nhà sử học Thụy Sĩ Jacob Burckhardt phát triển (khoảng những năm 1860). Tái sinh ở đây có nghĩa là sự khám phá lại các khoa học công nghệ cổ điển và đem ứng dụng vào trong khoa học và nghệ thuật hiện đại

Thời kỳ Phục Hưng được gọi như thế vì đặc tính cơ bản của thời kỳ này là sự hồi sinh của tinh thần thời kỳ Cổ đạiChủ nghĩa Nhân văn chính là phong trào tinh thần cơ bản của thời kỳ này.

Và chủ nghĩa nhân văn cũng chính là thông điệp mà hãng Mazor muốn gửi gắm khi phát triển hệ thống robot này. Vì vậy hãng đã đặt tên hệ thống robot này là robot Renaissance.

Hệ thống robot Renaissance được sử dụng trong phẫu thuật cột sống để giúp cho bác sĩ định vị chính xác vị trí cần phẫu thuật, giúp bác sĩ giảm được lượng tia X- nguyên nhân gây ung thư, giúp cho bệnh nhân giảm được rủi ro trong phẫu thuật, giảm đau, vết mổ nhỏ, ít sẹo và thời gian phục hồi nhanh.

  • “Mang lại độ chính xác ổn định và độ an toàn cao nhất cho bệnh nhân”- Giáo sư-Kirsten Schmeider,MD, Đức
  • “Sau 10 ca thì tôi cảm thấy thoải mái với hệ thống này, sau 15 ca thì tôi thấy thực sự bị cuốn hút. Và giờ đây tôi có thể làm được những điều mà trước kia không thể, nhằm tăng chất lượng điều trị cho bệnh nhân”- Bác sĩ. Sven Kantelhardt, MD, Mainz, Đức
  • “Hệ thống này không những giúp tăng chất lượng chăm sóc bệnh nhân mà còn làm tăng khả năng cho các bác sĩ”- Bác sĩ Dennis P.Devito, MD, Atlanta, Georgia, Mỹ
  • “Ngay sau khi tôi tư vấn cho các bệnh nhân về công nghệ này. Tất cả các bệnh nhân đều mong muốn tôi sử dụng nó trong ca phẫu thuật của họ”- Bác sĩ Dale S.Honrne, MD, PhD, Cincinnati, Ohio, Mỹ
  • “Nếu chính bạn tin vào công nghệ mới này thì bệnh nhân sẽ cảm nhận được điều đó và họ sẽ cảm thấy thoải mái với nó. Và nó cũng sẽ mang lại sự an toàn hơn mà nhiều bệnh nhân mong mỏi”- Giáo sư Michael Pfeiffer, MD, Breisach, Đức
  • “Các bác sĩ đã sử robot để phẫu thuật trong ca mổ của vẹo cột sống của tôi và kết quả thu được thật tuyệt vời” – Susan lee, Chicago, Mỹ
  • Ngay sau khi tôi được bác sĩ Dale S.Honrne tư vấn về công nghệ này, tôi đã đồng ý sư dụng và kết quả thật không thể tin được. Tôi đã có thể quay về với hoạt động hàng ngày một cách bình thường” –Jenny Marer, Cincinnati, Ohio, Mỹ

 

 

Robot hỗ trợ phẫu thuật cột sống kích thuớc nhỏ- Kiểm tra hiệu quả qua việc tiến hành

mổ xác

Sơ luợc: Việc xác định đúng vị trí cần bắt vis là rất quan trọng, mục đích để tranh gây tổn thương đến các

dây thần kinh và đạt hiệu quả tối đa trong việc kết hợp cứng khớp đốt sống. Hiện nay, việc bắt vis đa số là

đuợc thực hiện bằng tay, kết hợp với phuơng pháp chụp X quang để xác định vị trí cần đặt vis. Mặc dù

vậy, việc phát tia X quang sẽ gây ra bức xạ ảnh huởng đến bệnh nhân và phẫu thuật viên trong

phòng mổ.

.Loại Robot mini được gắn trên xương sống bệnh nhân có khả năng định vị chính xác vị trí cần bắt vis

trong cả khi mổ mở và mổ ít xâm lấn trong khi giảm tối đa luợng bức xạ đến bệnh nhân và phẫu thuật

viên trong phòng mổ.

 

Mục đích: Để đánh giá hiệu quả của hệ thống robot hỗ trợ phẫu thuật cột sống trong việc định vị và bắt vis

khi phẫu thuật can thiệp ít xâm lấn, phẫu thuật cố định cột sống qua da và để đánh giá hiêu quả của hệ thống trong việc giảm luợng tia phát ra trong khi tiến hành phẫu thuật

Nghiên cứu: Mổ xác tại nhiều trung tâm khác nhau và sau đó đánh giá

Mẫu bệnh nhân: 16 bác sĩ tiến hành mổ trên 11 xác với tổng cộng 217 vis

Tiêu chí đánh giá: (1) Độ chính xác của vis được đặt đuợc đánh giá qua cách chụp CT sau khi phẫu thuật và tổng thời gian phẫu thuật để so sánh với phương pháp định vị và bắt vis bằng tay. (2) Luợng bức xạ phát ra đựơc đo bằng một thiết bị đặt trên ngực bệnh nhân

Phuơng pháp: 15 bác sĩ sử dụng robot hỗ trợ để bắt vis qua da từ vị trí T9 đến S1. 1 bác sĩ có nhiều kinh

nghiệm tiến hành bắt vis tại các vị trí tương tự, sử dụng phương pháp chụp X quang kết hợp với mổ mở

nhỏ (mini -open). Độ chính xác của các vis sau khi được bắt và luợng tia phát ra của 2 phương pháp phẫu

thuật sẽ được ghi chép lại và so sánh với nhau

Kết quả: 217 vis được đặt, trong đó độ chính xác trong ca phẫu thuật không sử dụng robot là 2.8 mm

(std 1.3mm). Độ chính xác trung bình trong các ca sử dụng robot là 1.1 mm (std 0.4mm) – Hình 1.

Độ chính xác của các vis được bắt là không thay đôi cho dù được bắt vào đốt sống nào đi nữa. Hơn nữa,

độ chính xác của vis đựơc bắt là không phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ.

Thời gian: Thời gian trong 2 phương thức phẫu thuật là tương đương, với khoảng từ 76 đến 89 phút để bắt vis ở 10 tầng (T9-S1). Mặc dù vậy, nếu 1 bác sĩ có kinh nghiệm sử dụng robot thì thời gian hoàn thành sẽ chỉ ở khoảng 49.5 phút

Lượng tia phát ra: Đối với bác sĩ phẫu thuật không sử dụng robot, bắt vis qua da ở 5 tầng (L2-S1) và mổ

mở để bắt vis ở 5 tầng (T9-L1), lượng tia đo đuợc là 103 mrem. Đôi với các bác sĩ sử dụng robot hỗ trợ,

lượng tia trung bình là 4.2 mrem.13 trong số 15 bác sĩ ở nhóm này đựơc đánh giá là có lượng tia phát ra

thấp hơn mức có thể phát hiện được

 

Kết luận: Sử dụng robot hỗ trợ phẫu thuật cho độ chính xác ổn định ở mức trung bình là 1.1mm, ở mọi

tầng đốt sống và không phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ sử dụng. Sử dụng hệ thống robot để phẫu

thuật không là tốn thêm thời gian. Lượng tia phát ra khi sử dụng robot nhỏ hơn đến 51 lần so với phương

pháp thông thường. Đây là một nghiên cứu có nhiều ý nghĩa trong y học hiện nay.